Thời báo Ba Lan ‘xếp hạng’ Hồ Chí Minh

Tờ Polska Times tức Thời báo Ba Lan hôm 5/3 vừa đưa ra một bản xếp hạng 13 nhà độc tài đẫm máu nhất thế kỉ 20, trong đó có Hồ Chí Minh. Theo đó, Hồ Chí Minh qua 24 năm cầm quyền của mình đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người Việt qua cuộc chiến tranh đẫm máu.

Hồ Chí Minh- Ảnh trên tờ Polska Times

Cũng như nhiều sự bình chọn trước đó của các trang mạng khác, các nhà độc tài thuộc 3 thể chế chính trị: Phát xít, Cộng sản và Quân phiệt.

Những nhân vật của Polska Time như sau:

* 1 – Ismail Enver, Thổ Nhĩ Kỳ, cầm quyền 1913-1918, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,1 đến 2,5 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng người Armenia

* 2 – Kim Nhật Thành, Bắc Triều Tiên, cầm quyền 1948-1994, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,6 triệu người; tội ác lớn nhất: chiến tranh Triều Tiên

* 3 – Hồ Chí Minh, Việt Nam, cầm quyền 1945-1969, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,7 triệu người; tội ác lớn nhất: chiến tranh Việt Nam

*4 – Pol Pot, Campuchia, cầm quyền 1975-1979, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,7 – 2,4 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng ở Campuchia

* 5 – Saddam Hussein, Irad, cầm quyền 1969-2003, chịu trách nhiệm về cái chết của 2 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng người Kurd

*6 – Yahya Khan, Pakistan, cầm quyền 1969-1971, chịu trách nhiệm về cái chết của 2 đến 12 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng ở Bangladesh

*7 – Hideki Tojo, Nhật Bản, cầm quyền 1941-1944, chịu trách nhiệm về cái chết của 4 triệu người; tội ác lớn nhất: hành quyết thường dân trong chiến tranh thế giới thứ II.

* 8 – Vladimir Lenin, Nga, cầm quyền 1917-1924, chịu trách nhiệm về cái chết của 4 triệu người; tội ác lớn nhất: nội chiến ở Nga

* 9 – Hoàng đế Hirohito Nhật Bản, cầm quyền 1926-1989, chịu trách nhiệm về cái chết của 6 triệu người; tội ác lớn nhất: thảm sát ở Nam Kinh

* 10 – Tưởng Giới Thạch, Trung Quốc, cầm quyền 1928-1949, chịu trách nhiệm về cái chết của 10 triệu người; tội ác lớn nhất: thảm sát tại Đài Loan vào năm 1947

* 11 – Adolf Hitler, Đức, cầm quyền 1933-1945, chịu trách nhiệm về cái chết của 17-20 triệu người; tội ác lớn nhất: Holocaust

* 12 – Joseph Stalin, Nga, cầm quyền 1924-1953, chịu trách nhiệm về cái chết của 40-62 triệu người; tội ác lớn nhất: Trại tập trung Gulag

* 13 – Mao Trạch Đông, Trung Quốc, cầm quyền 1943-1976, chịu trách nhiệm về cái chết của 45-75 triệu người; tội ác lớn nhất: nạn đói lớn và Cách Mạng Văn Hóa.

Cũng cần nói thêm, Polska Times là tờ báo có số lượng truy cập khá lớn. Theo Alexa Ranking, lượng người đọc của tờ này đứng hạng thứ 30.000 trong số hàng chục triệu trang mạng trên toàn thế giới.

© Đàn Chim Việt

Nguyên bản tiếng Ba Lan tại đây

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Không giống ai

Tác giả:

Tôi đang sống trong một đất nước mà hàng ngày, hàng tháng, hàng năm những cái không giống ai vẫn ngang nhiên diễn ra, ngang nhiên hiện hữu. Không ai đồng tình nhưng ai cũng lặng thinh.

Xin được một lần mô tả cái diện mạo và hình dáng của những cái không giống ai này.

– Một quốc gia hai quyền lực lãnh đạo: Bên cạnh nhà nước- chính phủ có đủ ban bệ Bộ, vụ, sở vẫn tồn tại song song một cơ chế Đảng CS với những ban bệ và chức năng tương tự nhưng có quyền lực cao hơn. Người ta không nhìn thấy cái chính quyền thứ hai này nhưng nó hiện hữu trong cái gọi là “cấp ủy”. Đây mới là quyền lực thực sự là chủ nhân ông của đất nước.

Đất nước không phát triển nổi, nhân dân không giàu có lên được vì phải gánh vác trên vai mình hai guồng máy quyền lực với hai lực lượng nhân sự như con đỉa hai đầu hút hết nguồn lực quốc gia.

– Cái thành quả lớn nhất của nền văn minh nhân loại là nhà nước pháp trị và tam quyền phân lập nhưng ở VN thì nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo “toàn diện và tuyệt đối” của đảng CS, như vậy nhà nước pháp trị không tồn tại ở VN. Đảng CS là đảng lãnh đạo nên không có tam quyền phân lập mà chỉ có tam quyền phân nhiệm, có nghĩa là tính độc lập (điều kiện căn bản cho một nhà nước minh bạch và không tha hóa) đã bị thủ tiêu.

– Ở các nước dân chủ văn minh quyền tự do ngôn luận và bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa qua các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh vv là quyền mang tính phổ quát và quan trọng. Nó quan trọng đến mức tạo nên một quyền lực mới là đệ tứ quyền. Còn ở VN chỉ được phép có một tư tưởng, một tiếng nói, một cách nhìn và một cách suy nghĩ cho nên tính sáng tạo bị bức tử, sự khác biệt là “phản động” là chống đối.

– Ở các nước Văn minh– dân chủ, bầu cử, ứng cử là một quyền cực kỳ hệ trọng, nó quyết định sinh mệnh của thể chế dân chủ đó. Còn ở ta bầu cử là một món nợ quỷ thần phải trả. Cứ đến kỳ bầu cử là người dân phải lo thu xếp mọi công việc để đi bầu cho sớm nếu không muốn bị “nhắc nhở”. Ai đó mà bị chính quyền địa phương “nhắc nhở” nhiều lần vì không thực hiện quyền lợi của mình một cách nghiêm túc thì bị ghi vào sổ đen và người đó và gia đình trở thành “đối tượng” để theo dõi và trù dập. Trong hai kỳ bầu cử quốc hội vừa qua (năm 2005 và 2011) tôi và các cháu được chính quyền địa phương ” quan tâm” gọi điện thoại “nhắc nhở” tổng cộng là 6 lần trước và ngay trong ngày bầu cử!! Tôi và các cháu đã từ chối “quyền lợi” của mình nên bị báo chí và đài phát thanh của chính quyền gọi là phần tử “chống đối”.

Ở VN việc người dân đi bầu là một hình thức để hợp pháp hóa những gì đã được quyết định từ đảng CS, lá phiếu của người dân không quyết định được tương lai đất nước vận mệnh quốc gia, đã có đảng quyết định rồi, kết quả “bầu cử” đã được biết từ nhiều tháng ,thậm chí nhiều năm trước đó.

Người dân bị lôi vào cuộc chơi một cách bất khả kháng và trở thành những diễn viên trong trò chơi mang tính khôi hài.

Còn ứng cử là độc quyền của đảng không thuộc về người dân và quyền này không chia xẽ, không thương lượng, đây là một đặc quyền của giai cấp thống trị, những ai muốn tranh giành cái quyền này là phải trả giá như Tiến sĩ Cù huy hà Vũ, Luật sư Lê Quốc Quân.

– Ở các nước dân chủ — văn minh đảng chính trị chỉ là một hội đoàn dân sự do những người có cùng chủ trương và lý tưởng lập ra để góp phần kiến tạo nên một xã hội đa nguyên đa dạng phong phú và lành mạnh, họ độc lập và có quyền bình đẳng với những tổ chức chính trị đối lập hoặc đồng minh, họ không lãnh đạo ai và cũng không bị ai lãnh đạo, tất cả đều phục vụ nhân dân và đất nước và chịu sự ủy quyền của cử tri qua từng cuộc bầu cử và hoạt động của họ nằm trong khuôn khổ luật pháp. Nhưng ở VN đảng CS là quyền lực tối cao được cái gọi là “Hiến pháp” trao cho quy chế được quyền lãnh đạo vĩnh viễn (tất nhiên là cho đến khi nào chế độ độc tài còn tồn tại được). Đảng CS là ngươì cầm lái “vỹ đại”, đảng có mặt khắp nơi chi phối và quyết định tất cả. Từ trung ương đến địa phương, từ thành phố đến hang cùng ngõ hẻm, đôi mắt của đảng soi rọi khắp nơi để quan sát và lãnh đạo đến tận “quần” chúng.

Đảng có mặt ở những nơi không ai nghĩ tới, từ trường học, bệnh viện, công ty tư nhân, cả nhà thờ và thiền viện.

–Giáo dục các cấp, nhất là Đại học nơi đào tạo nhân tài và nhân lực cho đất nước thì môn Chủ nghĩa Mác- Lê nin là bắt buộc cho dù không ai muốn học vì mất thời gian và vô bổ, nhưng sinh viên phải học và trả tiền cho cái học trình vô bổ và mất thời gian đó!

–Nền kinh tế tư bản rừng rú chụp giật và man rợ bị sự độc quyền và lũng đoạn của bọn tư bản đỏ được gọi là nền khinh tế thị trường theo định hướng XHCN, ở thiên đường XHCN này giai cấp công nhân và nông dân bị bóc lột đến tận cùng, bị khinh miệt và ngược đãi mà không làm gì được để bảo vệ quyền lợi của mình, đảng CS lập ra Công đoàn và điều khiển nó như công cụ để kiểm soát công nhân và bảo vệ quyền lợi cho giới chủ. Những tập đoàn kinh tế cá mập được hình thành từ tiền thuế của dân nhưng lại trở thành chủ nhân ông của người dân, muốn vào làm việc ở những tập đoàn này phải là những thành phần con ông cháu cha.

–Lực lượng “công an nhân dân” thì coi dân như cỏ rác, buồn buồn thì đánh chết một vài người dân cho vui, mục đích là để thị uy. Nếu dư luận trong nước và quốc tế có phản ứng mạnh quá thì cũng xữ cho lấy lệ để bịt miệng công luận rồi đâu lại vào đó. Hãy nhìn những cái chết thê thảm của một số nạn nhân trong mấy năm gần đây thì rõ.

–Ở các nước dân chủ văn minh đất đai là một thứ tài sản quan trọng của người dân, quyền này được tôn trọng và bảo vệ bằng luật pháp, khi thật sự cần thiết nhà nước muốn xữ dụng thì phải thương lượng với người dân làm chủ mãnh đất đó, không áp đặt và không dùng cường quyền để “giải tỏa thu hồi”. Quan hệ giữa người dân và nhà nước dân chủ là quan hệ hài hòa, cùng chia xẽ quyền lợi và trách nhiệm, chỉ có ở cái nhà nước XHCN “của dân do dân và vì dân” này mới có dân oan, mới có những vụ thu hồi giải tỏa đất đầy máu và nước mắt vì quyền sở hữu đất đai “thuộc về toàn dân” và do nhà nước “trực tiếp quản lý”.

–Chỉ có ở VN và các nước CS mới có sự phân hóa giàu nghèo đến quái dị như vậy. Có những đại gia tài sản vàng bạc như núi, ăn chơi phè phởn, cuộc sống xa hoa đến lập dị, tài sản của họ nhiều đến mức khó mà ước lượng được vì quá lớn và không minh bạch, từ trăm triệu đến vài tỷ mỹ kim. Bên cạnh họ là rất nhiều người nghèo, cuộc sống lê lết bên những đống rác bẩn thỉu, hôi hám, họ sống trên rác và cũng kiếm sống bằng rác. Họ hoàn toàn không có tương lai, đất nước này xã hội này không thuộc về họ, họ chỉ như những con chuột theo nghĩa đen và nghĩa bóng.

–Bất cứ quốc gia và dân tộc nào thì đất nước là của chung, chung về quyền lợi và trách nhiệm, nhưng ở VN đất nước là độc quyền của đảng và nhà nước vì tất cả đã có “đảng và nhà nước lo”. Nhà nước và đảng làm chủ mọi nguồn tài nguyên của quốc gia,được độc quyền quản lý và phân phối. Bảo vệ đất nước như thế nào là quyền của đảng và nhà nước, người dân chỉ có mỗi một việc là làm theo những gì được đảng, nhà nước yêu cầu hoặc cho phép. Như trong cuộc chiến tranh Campuchia, đảng và nhà nước yêu cầu người dân phải hy sinh xương máu để “bảo vệ đất nước” và làm “nhiệm vụ quốc tế” thì người dân phải làm. Ngày hôm nay đất nước bị TC xâm chiếm, lòng tự tôn dân tộc bị sỉ nhục thì người dân VN cũng không được quyền “tự phát” để bày tỏ lòng yêu nước và một điều tuyệt đối là không được biểu tình để đưa ra một thông điệp cần thiết cho thế giới và bọn ngoại xâm biết được suy nghĩ và tình cảm của mình về hiện tình đất nước. Lòng yêu nước là một tình cảm tự nhiên, thiêng liêng và cao quý của bất cứ dân tộc nào trên thế giới nhất là người dân VN đã có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm trong suốt lịch sử 4000 năm của mình. Lòng yêu nước có thể nói là di sản quý báu của người VN mà tổ tiên của chúng ta trao truyền từ đời này sang đời khác, chưa có một triều đại một chính quyền nào “kiểm duyệt” lòng yêu nước chứ đừng nói đến chuyện thủ tiêu, ngăn cấm hay độc quyền. Vậy mà ngày hôm nay trước hành động hiếu chiến và ngang ngược của bọn bành trướng Bắc kinh, người dân Hà Nội, Sài Gòn đã tự nguyện xuống đường để cho thế giới biết là nhân dân VN không hèn yếu không vô trách nhiệm với quốc gia, vậy mà đã bị chính nhà cầm quyền “của dân,do dân,vì dân” đàn áp, bắt bớ, vu khống và chụp mũ . Điều này chắc làm cả thế giới kinh ngạc và khó hiểu là VN đang được điều hành bởi một chính quyền đại diện cho ai?.

–Trên thế giới này ở đâu cũng vậy, thời nào cũng vậy tầng lớp nhân sĩ trí thức là tinh hoa của xã hội, họ là nguồn lực sáng tạo nên những giá trị mới trong tất cả mọi lãnh vực từ học thuật đến khoa học học và kinh tế. Chính vì những cống hiến to lớn đó đã tạo nên địa cị cao quý của họ là một điều tự nhiên và hợp lý.

Tầng lớp nhân sĩ trí thức trở thành lực lượng dẫn dắt và lãnh đạo xã hội trong mọi mặt đời sống.

Trong việc bảo vệ đất nước thì vai trò và trách nhiệm của nhân sĩ trí thức càng nỗi bật và trở nên trọng yếu, không có họ đất nước như rắn mất đầu xã hội như mù lòa, mất định hướng. Vậy mà tầng lớp nhân sĩ trí thức VN ngày hôm nay ở đâu và đang làm gì khi tầng lớp này rất đông đảo và họ được thụ hưởng một đời sống sung túc hơn nhiều lần so với mức sống của người dân và từ tiền thuế của dân?!

Một điều may mắn là đất nước chúng ta ngày hôm nay đã hình thành được một tầng lớp nhân sĩ trí thức đối lập, dân chủ (cộng với hơn ba trăm nghìn trí thức ưu tú tại Hải ngoại) có đủ khả năng để bù đắp vào khoảng trống này, tuy luôn bị đàn áp và khủng bố. Đây là cái vốn liếng vô giá để chúng ta xây dựng lại quê hương sau bao nhiêu năm bị “nội xâm” tàn phá,

–Khi đất nước ở vào lúc dầu sôi lửa bỏng, kẻ thù đang dòm ngó và lên kế hoạch thôn tính biển Đông vì thời cuộc ngày hôm nay đã có những chuyễn dịch về hướng nghiêm trọng, thì Bộ chính trị đảng CSVN (cơ quan đầu não và quyền lực tối cao của chế độ) lại tiến hành cái gọi là “PHÊ VÀ TỰ PHÊ” để kiểm điểm phê bình những sai sót của lãnh đạo?!.

Trên thế giới này chỉ có “Văn hóa từ chức” như của Nhật bản, hoặc “tự xử” kiểu Hàn quốc như vụ cố Tổng thống Roh moo- huyn. Hoặc như Mỹ và các nước châu Âu là bị luận tội và cách chức thẳng thừng tùy mức độ sai phạm hoặc bất xứng. Ở VN ta thì các ông lãnh đạo lại bày ra cái trò “PHÊ VÀ TỰ PHÊ” thật là không giống ai cả!?

Ảnh

Nếu kể ra những cái “KHÔNG GIỐNG AI” ở VN thì nhiều lắm chỉ sợ làm phiền lòng độc giả nên tạm dừng chỗ này. Một đất nước với quá nhiều cái “KHÔNG GIỐNG AI” như vậy mà nó (những cái không giống ai) vẫn ngang nhiên tồn tại thì đúng là đất nước này “KHÔNG GIỐNG AI” thật rồi.

© Huỳnh Ngọc Tuấn © Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/65760

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Hoa Kỳ tự trói tay để thua cs VN… chứ không do VNCH

Mường Giang

Cựu Ngoại trưởng Kissinger xác nhận:

“Hoa Kỳ tự trói tay để thua csVN… chứ không do VNCH”

Sau hơn ba mươi bảy năm Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ tính từ ngày 30-4-1975, nhưng tới nay vẫn còn nhiều tác giả ngoại quốc khi viết về cuộc chiến trên,vẫn cứ dựa vào các tài liệu tuyên truyền của cộng sản, nên thường lý luận một chiều, đôi lúc thật hàm hồ bừa bãi.

Chính những cuốn sách này, đã khiến cho ai khi đọc tới cũng đều có cái cảm tưởng là “Những người lãnh đạo nước Mỹ lúc đó toàn ngu xuẩn hay điên rồ”, nên mới bị sa lầy và tháo chạy khỏi miền Nam, vào ngày 30-4-1975 một cách nhục nhã. Riêng đối với người Mỹ qua thói quen tự cao tự đại, sau khi tháo chạy khỏi chiến trường Đông Dương để bị mang tiếng bội tín với thế giới tự do, vì không giữ được lời hứa “bảo đảm quyền sống tự do của đồng bào Nam VN, Lào, Cambốt”.vẫn cứ phải loay hoay giữa “tự ái và lương tâm” khi muốn giải đáp trước công luận, lý do tại sao “Một cường quốc bách chiến bách thắng như Mỹ lúc đó và ngay cả ngày nay”, lại có thể bị thua trước một đối phương nhỏ bé, lạc hậu như cộng sản Bắc Việt? cho dù đối phương có được Nga, Tàu viện trợ và chống lưng.

Ngày nay nhờ những khai quật từ các văn khố khắp thế giới, nhất là sự sụp đổ của gần hết khối xã hội chủ nghĩa trong đó có Liên Xô và các nước Ðông Âu nhưng quan trọng nhất vẫn là những bản tự khai của các chóp bu tại Bắc Bộ Phủ, cho ta nhận rõ phần nào giải đáp trên, khi đã biết rõ thực chất của cuộc chiến Việt Nam (1955-1975).

Tất cả từ đầu cho tới cuối, hoàn toàn “không ăn nhập gì tới lòng ái quốc, yêu nước thương dân”, mà báo chí Tây Phương thường gán ghép để có cớ ca tụng Hồ Chí Minh và đảng VC trong suốt cuộc chiến, vì họ bị tuyên truyền một chiều.

Nay sự thật đã bị phanh phui, gây chiến tại Ðông Dương lần thứ 2 (1946-1975), thật sự “là không cần thiết lúc đó”.

Vì đối với Liên Xô thời đó, gây chiến “lại là kế hoạch nô lệ hoá toàn cầu của cộng sản đệ tam quốc tế”. Ðiều này ngày nay cũng đã được nhiều cán bộ cao cấp của VC như Trần Bạch Ðằng, Võ Văn Kiệt.. xác nhận. Còn hậu cứ lớn không phải tại Hà Nội, mà ở tận Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh, được Hồ Chí Minh cùng đồng đảng mang về bành trướng khắp nước. Sứ mạng của Hồ đã hoàn thành một phần, ít ra là đã nhuộm đỏ được ba nước Việt-Lào-Cao Miên trên bán đảo Ðông Dương.

Nhưng chiến thắng không phải do quân sự mang tới, mà nhờ vào “sự hèn nhát thụ động, của tập thề quần chúng trong vùng”, vì sợ sự khủng bố tàn độc của chủ nghĩa cộng sản nên cúi đầu tùng phục, để được yên ổn sống, dù là kiếp sống nô lệ hèn thừa bên lề đường như hiện tại trong thiên đường xã nghĩa VN. Do đó, hầu hết đã phó mặc vận mệnh của đất nước, của chính bản thân và gia đình mình cho ai muốn làm lãnh tụ cũng được, coi đó như là chuyện không có liên can gì tới họ.

Tóm lại “Chiến tranh VN vừa qua” là một cuộc chiến vô cùng phức tạp, giống như Pháp năm 1954, người Mỹ đã thua cộng sản trong mặt trận ý chí tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn và tàn nhẫn bất công ngay trên đất nước mình, chứ không phải ở chiến trường Ðông Dương.

Cũng từ đó, người Mỹ thường nhắc nhớ tới thành ngữ “No more Việt Nam” như một thứ mặc cảm tội lỗi, luôn đè nặng đất nước Hoa Kỳ, cho tới lúc Tổng thống Reagan vào ngày 21-5-1982, khai sinh một nước Mỹ mới, khi tuyên bố chiến lược tấn công, để ngăn chận sự bành trướng của khối cộng sản quốc tế.

Từ đó người Mỹ mới thôi cúi mặt và bắt đầu phục hồi danh dự cho những chiến binh Hoa Kỳ, đã tham chiến tại VN từ 1955-1975, và gọi đây là một trong những cuộc chiến chính nghĩa vĩ đại nhât, mà nhân dân Hoa Kỳ đã thực hiện được kể từ ngày lập quốc tới nay.

Ðối với Việt Nam Cộng Hòa dù người lính miền Nam đã hy sinh tột đỉnh nhưng cũng chỉ giữ được nửa mãnh đất quê hương từ Bến Hải vào tới Cà Mâu, vỏn vẹn chỉ có hai mươi năm trường kỳ máu lệ. Tất cả “không phải vì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không chịu chiến đấu trước kẻ thù, hoặc Miền Nam không có tướng tài và cấp lãnh đạo xứng đáng sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị sát hại hay Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa không có chính nghĩa như Thượng Nghị Sĩ Mỹ là Mc.Cain từng tuyên bố trên báo chí..” mà là NƯỚC MẮT NHƯỢC TIỂU Việt Nam.

Nói đúng hơn, chúng ta đã bị Thực Dân Mới nhân danh Liên Hiệp Quốc, bán đứng trong canh bài phân chia ranh giới chính trị, quân sự giữa hai khối tư bản và cộng sản, đã sắp xếp sẵn sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến kết thúc.

Nhiều nước Ðông Âu kể cả Ðức cũng chịu chung số phận nhược tiểu như VN và Cao Ly, khi nằm trong thế cờ quốc tế đã định đoạt sẵn. Nhưng may thay Họ đã tự mình tháo gỡ được gông cùm nô lệ cộng sản vào đầu năm 1990, khi Liên Bang Sô Viết và phần lớn khối cọng sản đệ tam quốc tế tan rã.

Theo nhận xét của GS người Mỹ Hans Morgenthau, thì đây là trò che đậy sự bất đồng, cũng là sự phân chia sẵn ranh giới chính trị, quân sự giữa khối cộng sản và Tây Phương, sau khi kết thúc đệ nhị thế chiến. Tại Châu Âu, từ năm 1947 Liên Xô xé bỏ cam kết, mặc sức tung hoành, dùng quân sự lần hồi cưỡng chiếm các nước quanh vùng, dựng khối Ðông Âu, cô lập trong bức màn sắt. Tây Bá Linh và hai nước đồng minh của Mỹ lúc đó là Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ cũng bị nguy khốn, sắp rơi vào tay cộng sản.

Ðể đối phó với tình trạng trên, Tổng Thống Mỹ Truman buộc lòng phải ban hành chiến lược “Ngăn Chặn”, đồng thời khai sinh chường trình “Marshall”, viện trợ giúp cho các nước Tây Âu phục hồi kinh tế, quân sự đã bị thế chiến tàn phá. Song song Mỹ và các nước trên thành lập Tổ chức Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương, nhằm liên kết quân sự, để bảo vệ lẫn nhau và chống lại sự xâm lăng của Liên Xô và khối cọng sản quốc tế.

Nói chung những nước nào được Mỹ khoanh vùng, thì được gọi là Ðồng Minh và tận tình bảo vệ như Cao Ly và Ðài Loan ở Viễn Ðông. Nhưng dù chiến tranh có xảy ra dưới một hình thức nào chăng nữa, kể cả cuộc chiến thế giới tại bán đảo Triều Tiên năm 1950, thì chủ trương của nước Mỹ qua tuyên bố của Tổng Thống Truman, chỉ để “tái lập hòa bình và biên giới sẵn có đã được qui định từ trước”. Ðây cũng là chiến lược của Mỹ khi tham chiến tại VN từ 1960-1975, qua nhiều đời tổng thống của lưỡng đảng, chỉ nhằm mục đích “ngăn chận làn sóng đỏ đừng lấn qua ranh giới đã phân chia sẵn”, chứ không phải tới để giúp cho VN “giải phóng khỏi ách nô lệ cộng sản”.

Vì vậy cuối cùng để hoàn thành chiến lược, cần phải thương thuyết hòa bình, chứ không phải đánh nhau để kết thúc chiến tranh tại đó, khi người Mỹ đã đạt được chiến lược toàn cầu, có lợi cho quyền lợi của nước Mỹ. Ðiều bất hạnh nhất của dân tộc VN mà bất cứ ai cũng nhận thấy, là đã có chung biên giới với nước Tàu.

Ðã vậy còn bị lọt vào quỹ đạo của người Mỹ, khi Hoa Lục và Bắc Việt bị nhuộm đỏ. Nên vừa nhậm chức Tổng Thống Mỹ, Eisenhower đã tuyên bố không để mất Ðông Dương vì đây là một trong những quân bài Domino toàn vùng Ðông Nam Á, mà VN là tiền đồn quan trọng nhất. Còn John Kennedy, từ lúc còn là thượng nghị sĩ vào năm 1956 cũng đã coi VN rất quan trọng trong chiến lược quốc phòng của Hoa Kỳ, qua các yếu tố địa dư chính trị.

Vì vậy khi đắc cử Tổng Thống, Ông đã chọn Miền Nam VN làm một thí điểm tại Châu Á, để thực thi nền dân chủ tự do chống lại chủ nghĩa độc tài khủng bố cộng sản. Ðây cũng là một cuộc trắc nghiệm đầu tiên sau hai cuộc thế chiến vừa qua, để đo lường về ý thức trách nhiệm cùng bổn phận của siêu cường Mỹ đứng đầu khối tự do.. chống lại chủ nghĩa cộng sản.

Nhờ vậy ngày nay người ta mới có được những kết luận rất mẫu mực, về cái gọi là “chính nghĩa mập mờ của người Mỹ tại chiến trường VN”, nói là để giúp dân tộc này chống lại cuộc xâm lăng của Bắc Việt. Tất cả chỉ là “một chiến lược què quặt bất nhất”, do một mặt “thì sợ dư luận của quần chúng Mỹ phản đối bị mất phiếu..”, mặt khác “cứ ham muốn đạt nhanh chiến thắng tại chiến trường” nhưng lại không cho phép phe mình tấn công tiêu diệt địch quân, với lý do “sợ đụng độ với Trung Cộng”.

Ngoài ra các vị Tổng Thống có liên quan tới chiến tranh VN như J.Kennedy, Johnson, Nixon và Ford đều chỉ xử dụng những phương tiện nhỏ để đòi đạt chiến thắng lớn, nên cuối cùng phải bị sa lầy về mặt đạo đức, làm cho nước Mỹ bị thế giới cười chê về thủ đoạn con buôn chính trị, từ sau tháng 5-1975 tới nay vẫn chưa lấy lại được uy tín cũ đã đánh mất tại VN. Nhưng dù tại chiến trường VN trước năm 1975, Hoa Kỳ không hề bị sa lầy vẫn phải đóng kịch tháo chạy vì mục đích nối kết với Trung Cộng, phá vỡ thế liên hoàn Nga-Hoa đã hoàn thành từ 1972..

1- Hoa Kỳ Không Bao Giờ Sa Lầy Tại Nam VN:

Sau khi rời khỏi chính trường năm 1977, Ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, nhân vật mang tiếng đã manh tâm bán đứng Việt Nam Cộng Hòa cho khối cộng sản đệ tam quốc tế, đã lần lượt xuất bản nhiều tập hồi ký chính trị như: Những năm tháng ở Bạch Cung (1979), Niên đại sóng gió (1982) và Bí Lục Kissiger.. đã hé mở nhiều bí ẩn lịch sử cận đại về các thời kỳ chiến tranh lạnh giữa Mỹ-Liên Xô-Trung Cộng, chiến tranh VN và cuộc thăm viếng Trung Cộng của Tổng thống Mỹ Richard Nixon vào tháng 2-1972, trước khi Hà Nội mở cuộc tấn công mùa hè vào các tỉnh Quảng Trị-Bình Long và Kon Tum, Bình Ðịnh của Việt Nam Cộng Hòa.

Cũng nhờ những tiết lộ này, mà ngày nay ta mới biết được bộ mặt thật của cặp Nixon-Kissinger, chỉ vì lợi lộc của riêng mình đã bán đứng đồng minh bạn bè cho kẻ thù. Vì muốn kéo Trung Cộng vào phe cánh, Hoa Kỳ qua Nixon-Kissinger đã chủ động đề nghị viện trợ tối đa cho Tàu tất cả những quân dụng vũ khí chiến lược, kể cả cung cấp vệ tinh để Tàu thu lượm tin tức tình báo từ Liên Xô.

Theo Bill Burr, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề ngoại giao của Mỹ, thuộc Ðại Học Washington, cũng là chủ biên hồi ký Bí lục Kissinger, cho biết cuộc đi đêm bí mật của Kissinger tại Bắc Kinh, khởi đầu từ năm 1971 qua đề nghị Hoa Kỳ sẽ thiết lập một chương trình vệ tinh tình báo để tặng Trung Cộng.

Sau đó tại trụ sở LHQ ở New York vào tháng 12-1971, Kissinger đã cho Hoàng Hoa nhiều tin tức liên quan tới quân sự của Liên Xô để chuyển về Tàu. Tuy vậy để che mắt Liên Xô và thế giới, Hoa Kỳ cũng như Trung Cộng luôn đóng kịch kình chống nhau tại bàn hội nghị.

Như trường hợp VN, trước khi Tổng thống Nixon chính thức thăm Trung Cộng và sau này, Kissinger đã bí mật tới Bắc Kinh rất nhiều lần để gặp cả Mao-Chu và Trung Cộng cũng đã đáp ứng cho Mỹ thiết lập một trạm tình báo-quân sự, dọc theo biên giới Nga-Hoa để thu lượm tin tức, theo dõi tình hình chuyển động của Liên Xô. Tháng 7-1973, một điệp viên CIA tên James Lilley được cử giữ chức trưởng trạm tình báo này, cũng là người trực tiếp phụ trách đường dây liên lạc Trung-Mỹ.

Tháng 4-1975 theo yêu cầu của Ðặng Tiểu Bình, Tổng thống G. Ford đã viện trợ cho Trung Cộng rất nhiều quân trang, quân dụng chiến lược, trong đó có nhiều thiết bị điện tử dùng để chế tạo vũ khí bom đạn hiện đại. Kissinger còn tiết lộ nội dung cuộc họp thượng đỉnh giữa Nga-Mỹ cho Trung Cộng. Tất cả cho thấy mức độ khả tín của người Mỹ trong lúc cùng hợp tác đồng minh, để từ đó chúng ta mới nhận diện rõ ràng “về ý nghĩa của sự sa lầy tại VN”, mà các sử gia trong và ngoài nước thường hay gán ghép cho Hoa Kỳ.

Ðọc lịch sử nước Mỹ, ta thấy dù dân chủ hay cộng hòa, tổng thống hèn kém như Carter hoặc cứng rắn cỡ Reagan, thì ưu tiên số 1 của chính phủ cũng vẫn là làm sao cho dân chúng Hoa Kỳ được hưởng thụ nhiều hơn trước, để đảng nọ đảng kia mới còn cơ hội tái đắc cử cầm quyền tiếp. Hiểu thêm điều này nữa, mới cảm thấy bớt uất nghẹn khi biết Tổng thống Johnson đã đưa vào VN tới 550.000 quân + 80.000 của các nước Ðồng Minh và 150 tỷ đô la chiến phí.

Rồi đang lúc Việt Nam Cộng Hòa sắp đạt được chiến thắng cuối cùng, qua các trận đại chiến vào Tết Mậu Thân 1968, các cuộc hành quân Toàn Thắng vượt biên giới sang Kampuchia 1970 và nhất là trận Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972… thì Tổng Thống Mỹ là Nixon, kế thừa chiến lược của TT.Johnson lại ký Hiệp ước ngưng bắn Paris 1973 “tháo chạy khỏi VN”, bỏ mặc cho Miền Nam bị toàn khối cộng sản đệ tam quốc tế” cưỡng đoạt vào trưa ngày 30-4-1975”.

Ngày nay nhờ Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật “Quyền tự do tư liệu và thông tin”, nên Thư Viện Quốc Gia Mỹ đã giải cấm những văn kiện tuyệt mật, có liên quan tới cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1945-1975), qua nhiều đời Tổng Thống Mỹ liên hệ, từ Truman cho tới Carter. Nhờ vậy người ngoài mới biết được những bi hài kịch đã diễn ra suốt thời gian Mỹ tham chiến tại VN, ngay trong hậu trường của những chóp bu tại Tòa Bạch Ốc, mà những nhân vật quyết định vận mạng của VN, phần lớn là Dân Sự hay Chuyên Viên Hành Chánh, trong đó hầu hết chưa một ngày ở trong quân ngũ hay trốn quân dịch như trường hợp của Tổng Thống Bill Clinton sau này. Ðó là việc quân lực Mỹ chưa bao giờ được phép xử dụng hết khả năng chiến đấu, nhất là hai quân chủng Không và Hải quân Hoa Kỳ, chủ nhân ông của bất cứ chiến trường nào, rất được thế giới nể sợ.

Còn một bí mật khác cũng không kém phần bi thảm, đó là khi Mỹ đưa quân đội mình tới chiến đấu ở VN, thì cũng đồng lúc tư bản Mỹ tha hồ xuất cảng quân trang, quân dụng sang Nga, các nước Ðông Âu lẫn Tàu. Sau đó các nước này thay nhãn đổi hiệu, rồi lại chuyển tiếp tới Hà Nội, để Bắc Việt chuyển vận vào Miền Nam cho Bộ đội Cộng Sản có phương tiện dồi dào, bắn giết chẳng những Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà cả quân Mỹ và các nước đồng minh đang chiến đấu tại chiến trường VN.

Nói chung dù có thái độ cứng rắn như Tổng thống Truman, trước chủ nghĩa bành trướng sắt máu của Trùm Ðỏ Staline vào năm 1947 hay to miệng nhảy múa chống cộng cùng mình như Tổng thống Nixon, thì cuối cùng cũng vẫn là cùng thỏa thuận với nhau để chia chiến lợi phẩm trên xác chết của con mồi. Ðó là chân lý của nền chính trị con buôn kiểu tư bản Mỹ, vừa la làng xúi gịuc cũng như viện trợ để đồng minh chống cộng. Rồi cũng Mỹ lại rất tích cực buôn bán đủ thứ kể cả quân dụng vũ khí tối mật quốc phòng với các nước cộng sản trên.

Như hiện tại cuộc giao dịch giữa Mỹ và hai nước Trung Cộng-Ðài Loan, ai cũng thấy. Ðây cũng là một chứng minh thực tế, để cho bất cứ ai còn đang mang ảo tưởng vọng ngoại, trong công cuộc quang phục đất nước khỏi gông cùm cộng sản, xin chớ có hoài công đợi chờ. Vì con đường giải thể chế độ Việt Cộng hiện nay chỉ có toàn dân Việt Nam phải chịu lăn xả hy sinh đổ máu như người Miến, người Tây Tạng… thì mới hy vọng tháo gỡ được cùm gông, vì chính họ trong quá khứ đã tự mình mang vào cổ ách nô lệ cộng sản.

2- Hoa Kỳ Tự Trói Tay Để Thua CS Bắc Việt, Chứ Không Phải Tại VNCH:

Riêng về câu hỏi tại sao siêu cường Mỹ với một bộ máy chiến tranh ghê gớm, lại để cho 55.000 quân sĩ thiệt mạng và mấy trăm ngàn người khác bị thương? cuối cùng tháo chạy, sau khi chỉ lấy được về nước, một số tù binh bị Bắc Việt cầm tù. Ðô đốc Grant Sharp, cựu tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đã giải thích ‘ cuộc chiến thất bại không phải vì chống không lại địch quân, mà vì chính sách của Hoa Thịnh Ðốn đã đẻ ra quá nhiều chiến lược, nào leo dần tới đáp ứng, rồi đang mềm dẻo đột nhiên dội bom, sau đó tự ý ngưng và thương thuyết tại bàn hội nghị để đạt chiến thắng. Cuối cùng tự mình trói tay đầu hàng, rồi tháo chạy khỏi chiến trường, dù chẳng hề bị sa lầy hay bị lâm vào tuyệt lộ ‘.Ðây cũng là kết quả như lời cảnh giác của Tướng Maxwell Taylor, nguyên cố vấn quân sự của Tổng Thống J.Kennedy từ năm 1961:

“Nếu Hoa Kỳ tới Việt Nam với mục đích tối hậu, là giúp cho nước này chống lại sự xâm lăng của cộng sản, thì cuộc chiến sẽ không có giới hạn, nên chúng ta không thể không đánh thẳng ra Hà Nội, để tiêu diệt sào huyệt của chúng. Nhưng tiếc thay, đất Bắc nơi phái sinh ra cuộc chiến Việt Nam, lại là vùng đất bảo đảm an toàn nhất, mà các tổng thống Mỹ dành cho Việt Cộng …”

Ðã vậy TT Johnson còn cấm quân Mỹ không được tấn công hay truy sát quân Bắc Việt, tại lãnh thổ Lào và Kampuchia giáp ranh với VN. Trong khi đó ai cũng biết trên phần đất này, Hà Nội đang mở đường mòn HCM, lập các khu hậu cần, mật khu, tích trữ lương thực quân dụng và tập trung quân để tấn công vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.. Chính cựu Tổng thống Eisenhower cũng lên tiếng thắc mắc là tại sao TT. Johnson lại không dám tấn công thẳng vào đầu não của quân Bắc Việt tại Hà Nội, trong lúc đó hầu hết tướng lãnh Mỹ thì phẫn nộ, vì nhận được lệnh đánh nhau với Việt Cộng phải đạt chiến thắng nhưng hai tay họ thì bị trói chặt bởi các luật lệ. Có thể dùng thời điểm Tổng Thống MỹEisenhower gởi thư thông báo cho Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm vào tháng 10-1954 với lời hứa giúp Việt Nam Cộng Hòa trở thành một quốc gia mạnh, trường tồn, có khả năng chống lại mưu toan xâm lăng của Bắc Việt… như là một cột mốc quan trọng về sự nhập cuộc của Hoa Kỳ tại VN.

Năm 1961 lúc Tổng Thống J.Kennedy nhậm chức, quan điểm của nước Mỹ vẫn không thay đổi về việc Bắc Việt đang xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, qua hình thức lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.. Tuy nhiên trong thành phần chính phủ Mỹ lúc đó đã có nhiều khuynh hướng, như thay thế Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hay tăng cường viện trợ, quân sự kể cả gởi quân tới giúp Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu chống lại sự xâm lăng của Hà Nội.

Sự tự tin hiểu biết về tình hình VN của các tổng thống Mỹ, sau này được các nhà báo Norman Podhoretz, Theodore H.White.. mai mỉa là không nhũn nhặn mà cũng chẳng khôn ngoan chút nào, khi thật sự Hoa Thịnh Ðốn lúc đó không hiểu biết cho mấy về cái chiến trường VN nhỏ bé xa xôi tận miền Viễn Ðông, thế mà dám đề ra phương thức, chiến lược tràng giang, để giải quyết tình hình chính trị, xã hội, quân sự, kinh tế của đất nước ấy.

Ðiều này mãi tới năm 1981 mới thấy một sĩ quan cao cấp Mỹ nêu lên trong tác phẩm của mình “chiến tranh tại VN là chiến tranh du kích, đáng lẽ ngay khi nhập cuộc, quân đội Mỹ phải hiểu rõ thực chất của cuộc chiến, để có chiến thuật chống khuynh đảo, diệt du kích, mà quân đội của các nước khác đều được huấn luyện học hỏi, trước khi nhập trận”.

Tóm lại như Nixon đã nhận biết từ năm 1954, cộng sản dùng chiêu bài “chiến tranh giải phóng”, để mà xâm nhập và khuynh đảo chính trị tại Nam VN, chứ không bao giờ công khai vượt tuyến như tại Triều Tiên năm 1950. Thêm một điểm đặc biệt khác, là lúc đầu những người trí thức và khoa bảng Mỹ gần như thờơ không ngó tới việc Hoa Kỳ tham chiến tại VN. Nhưng từ giai đoạn 1967 về sau, nhất là sự kiện cộng sản bị thảm bại trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, thì giới trên nhập cuộc qua phong trào phản chiến trên đất Mỹ, chống đối và đánh phá chính phủ dữ dội, còn hơn Việt Cộng thứ thiệt ở Việt Nam cũng chưa thấy hoạt động công khai dữ dằn như phong trào phản chiến tại Mỹ.

Ðây là một nghịch lý nổi bật và mai mỉa nhất của Mỹ, trong cuộc chiến VN. Ðó là sự kiện công dân Mỹ (như đào hát Jane Fonda chẳng hạn), đã công khai đứng hẳn về phía Hà Nội, cổ võ cho giặc chống lại quân đội và chính phủ mình, qua các cuộc biểu tình phản chiến, cầm cờ máu đốt cờ Mỹ, lên đài phát thanh truyền hình chửi bới hay tới tận Hà Nội để hoan hô Hồ Chí Minh… Khi than rằng “Chúng ta đã đánh bại chính ta”, đó là nhận xét của Tổng Thống Johnson về nước Mỹ và ngay cả bản thân mình, trong suốt thời gian cầm quyền với một sức mạnh quân sự vô địch, nhưng đầu óc lại chỉ nghĩ tới chiến thắng Việt Cộng bằng chính trị, một chiến lược giá rẻ, mà không một nhà lãnh đạo nào của thế giới nghĩ tới sự kỳ quặc này, nhất là khi phải đối mặt với những kẻ sát nhân khủng bố thâm độc như cộng sản quốc tế.

Năm 1967, Nixon nhậm chức tổng thống, khiến ai cũng nghĩ tới nước Mỹ sẽ leo thang chiến tranh, vì ông ta là một nhân vật diều hâu có môn bài. Ông ta cũng giống như TT Kennedy và Johnson, có chung mục tiêu là cả ba đều cương quyết không muốn Việt Nam Cộng Hòa phải sụp đổ vì Bắc Việt xâm lăng..

Nhưng cả ba đã lầm lẫn chiến lược lúc nhập cuộc. Với TT Kennedy và Johnson, cả hai cùng chủ trương tham chiến trong giới hạn, để không gây xáo trộn tại chính quốc, nên nói ngăn chận nhưng vẫn không cản nổi sự xâm nhập của bộ đội từ Bắc vào Nam và sự khuynh đảo chính trị tại Việt Nam Cộng Hòa.

Khi Nixon lên cầm quyền, cũng là lúc nước Mỹ qua vai trò của Kissinger, đang đi đêm để nhen nhúm sự nối kết Mỹ-Hoa, phá thế liên hoàn Nga-Trung, trong thế cờ thời chiến tranh lạnh giữa ba nước Hoa Kỳ-Liên Xô và Trung Cộng. Bởi vậy Nixon không bao giờ dám leo thang chiến tranh tại VN, vừa phản lại lời hứa “rút quân” khi ứng cử, vừa làm mất sự thân thiện với Trung Cộng lẫn Nga đang cổ võ và ủng hộ Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam.

Ðó là lý do Nixon trao lại cuộc chiến đang tiếp diễn ác liệt tại chiến trường Nam VN, cho Việt Nam Cộng Hòa tự lo liệu, qua danh từ hào nhoáng “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”. Sau này qua các hồi ký chính trị của những nhân vật thân cận cao cấp của Chính Phủ VNCH như Nguyễn Tiến Hưng, Hoàng Ðức Nhã… ta mới biết được gánh nặng của các nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa suốt 20 năm tồn tại, từ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm tới TT Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương… tất cả đều bị Hoa Kỳ dùng viện trợ và sinh mệnh, để áp lực VN phải thi hành theo đường hướng của Mỹ, nhất là sự ký kết hiệp ước ngưng bắn ngày 27-1-1973. Ngoài ra những bức thơ viết tay của Tổng Thống Nixon và Ford, gửi mật cho TT.Nguyễn Văn Thiệu, với sự trang trọng cam kết, đã nói lên cái gọi là “thực chất của sự mưu tìm hòa bình trong danh dự” và trên hết đã phần nào lột trần hai nhân vật “Nixon-Kissinger”, trong vai trò chủ động tháo chạy khỏi Miền Nam, để khỏi bị sa lầy.

Không được đáp ứng theo nhu cầu đòi hỏi, TT J.Kennedy đạo diễn tấn tuồng binh biến ngày 1-11-1963 hạ Tổng thống hợp pháp của Việt Nam Cộng Hòa là TT Ngô Ðình Diệm, để gây xáo trộn chính trị suốt ba năm, rồi kết luận miền Nam thiếu lãnh đạo. TT Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, dùng đủ mọi thủ đoạn, kể cả hành động đê tiện là đe doạ ám sát TT Nguyễn Văn Thiệu, để hoàn thành cho được bản hiệp ước ngưng bắn Paris 1973, mới có cớ hợp thức cho phép bộ đội miền Bắc có mặt tại miền Nam. Nói là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” nhưng lại cắt viện trợ, ngưng cung cấp quân trang, quân dụng như lời hứa, khiến cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lâm vào tình trạng kiệt quệ, phải bỏ nhiều phần lãnh thổ, vì không có phương tiện để phòng thủ. Rồi trong lúc Bắc Việt xua hết lực lượng, tấn công cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa, thì người Mỹ tháo chạy trong danh dự, suốt đêm trên nóc nhà bằng trực thăng, qua sự đùm bọc bảo vệ an ninh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lúc đó. Cuối cùng từ ấy đến nay, vẫn không ngớt đổ tội cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là không chịu chiến đấu, nên quân đội Mỹ phải sa lầy và Miền Nam mới bị sụp đổ. Nhưng giấy làm sao gói được lửa, và chắc là bị lương tâm cắn rứt dầy vò chịu không nổi, nên cựu ngoại trưởng Henry Kissinger, trong cuộc hội thảo tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 29-9-2010 đã tự thú “Sự thảm bại tại VN vào ngày 30-4-1975 là do Hoa Kỳ gây nên, chứ không phải Việt Nam Cộng Hòa”. Lời phát biểu trên của Kissinger, tuy quá muộn màng vì thời gian dài hơn 1/3 thế kỷ, nhưng có còn hơn không, vì ít ra ông cũng còn đủ can đảm đứng ra gián tiếp thay mặt cho nước Mỹ đểtrả lại sự công bằng và danh dự cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Source: http://www.nguyenkhapnoi.com/2012/06/22/hoa-k%E1%BB%B3-t%E1%BB%B1-troi-tay-d%E1%BB%83-thua-csvn/

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Lại phải nói về quan trí Việt Nam

Song Chi.

Suốt trong thời gian qua, khi vụ Tiên Lãng nổ ra trong lòng xã hội Việt Nam như một tiếng bom và dư chấn của nó cho đến nay vẫn chưa có dấu hiệu ngừng, người dân lại có dịp được “thưởng lãm” chân dung các quan chức VN-ở đây là quan chức huyện Tiên Lãng và thành phố Hải Phòng-được phơi bày rõ mồn một trên báo chí, từ báo nhà nước cho đến báo hải ngoại, các diễn đàn độc lập, trang blog cá nhân…Qua những lời ăn tiếng nói, hành vi ứng xử, việc làm… những con người đang ngồi trên ghế lãnh đạo một huyện, một thành phố đã bộc lộ đầy đủ năng lực, trình độ, tư duy, cái tâm cái tầm…của họ. Tiếc rằng những chân dung đó quá tệ hại-cả đức lẫn tài khiến người dân phải lắc đầu ngao ngán.

 

Thật ra, đây chẳng phải lần đầu tiên người dân VN được nghe/ thấy những lời nói, hành vi bộc lộ cái quan trí quá thấp của các quan chức từ cấp huyện, xã cho đến cấp cao nhất, cỡ Thủ tướng, Chủ tịch nước hay Tổng Bí thư đảng. Trong lúc Tổng Bí thư như ông Nông Đức Mạnh, trong mọi cuộc họp lúc nào cũng chỉ thấy cầm giấy viết sẵn nhai đi nhai lại những luận điệu cũ rích, xơ cứng, thì Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại bộc lộ tư duy lòng vòng không ai hiểu ông định nói gì như trong câu sau:

“Nói biển Đông không phải chỉ là biển Đông. Nói biển Đông không phải chỉ quan hệ ta với Trung Quốc. Nói biển Đông không phải toàn bộ vấn đề biển Đông, nó chỉ có một cái chỗ quần đảo Hoàng Sa với lại quần đảo Trường Sa …”

Chủ tịch nước như ông Nguyễn Minh Triết thì có cung cách ăn nói bình dân đến mức dân dã, với không ít phát ngôn nằm trong danh sách những câu nói ấn tượng nhất trong năm! Nhiều người dân vẫn nhớ những lời vàng ngọc của ông Chủ tịch, ví dụ như trong chuyến thăm Cuba năm 2009:

“Có người ví von, Việt Nam Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía đông, một anh ở phía tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ”

Khi phát biểu trước kiều bào 2009, nói về vị thế ngoại giao của Việt Nam thì:

“Tôi hoan nghênh ông Obama. Ông ấy tuyên bố đóng cửa nhà tù Guantanamo mà. Nhưng mà tôi nói rằng “Ông Obama ơi, vấn đề này là khó lắm đó. Tôi chúc ông phải nỗ lực để thực hiện cho bằng được cái này. Tôi nói mà tôi nhìn Obama mà tôi thấy ông ấy cũng chăm chú lắm đó, lắng nghe lắm. Như thế là mình vừa động viên ông Obama nhưng mình vừa phân hóa cái nội bộ của ổng…Như vậy đó tôi muốn nói với các đồng chí và quí vị rằng cái vai trò, cái vị thế của mình bây giờ cũng ngang hàng với người ta, cũng nói năng cũng đúng mức, đàng hoàng. “

Nói về đoàn kết toàn dân tộc:

“Chúng ta là con một nhà, là con Lạc cháu Hồng, cùng một bọc trứng sinh ra. Trên thế giới này ít có nơi nào có cái đó lắm á.”

(Theo wikipedia tiếng Việt).

Bàn về quy luật tham nhũng:

“… Chúng ta từ một nước trong chiến tranh, chưa có những cái kinh nghiệm trong quản lý, và ở nước người ta đó thì muốn tiêu cực, muốn tham nhũng cũng khó, vì hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở Việt nam của mình, thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham, cái người thủ quĩ cứ giữ tiền khư khư,ở quĩ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì em mượn một chút, mượn không thấy ai đòi hết,thì em mượn thêm. Chứ không phải người Việt nam tham những nhứt thế giới, không phải vậy!”

( Phát biểu tại “Đại hội Kiều bào ở nước ngoài lần thứ nhất” do Việt Nam tổ chức tại Hà Nội từ 21.11.2009 đến 23.11.2009)

Còn Thủ tướng như ông Nguyễn Tấn Dũng lại có những phát ngôn gây choáng kiểu khác. Khi mới nhậm chức ông Dũng hùng hồn tuyên bố:

“Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay.”

Hết một nhiệm kỳ 5 năm của ông Nguyễn Tấn Dũng, tham nhũng phát triển tràn lan trong xã hội, với mức độ ngày càng nặng nề hơn, trơn trẽn hơn, không ai thấy ông Dũng từ chức, trái lại ông còn ngồi tiếp thêm một nhiệm kỳ nữa!

Ông Dũng khoe về công tác nhân sự:

“Tôi nhớ đồng chí Phạm Văn Đồng – có lẽ làm thủ tướng lâu nhất – có lần nói chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào. Hơn ba năm nay tôi làm thủ tướng cũng chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào, chắc là cũng phải học theo đồng chí Phạm Văn Đồng.”

Nhưng đáng nói nhất có lẽ là câu ông Thủ tướng trả lời về trách nhiệm với vụ Vinashin trong buổi thảo luận đánh giá 10 năm đổi mới, phát triển DNNN tháng 12.2011 ở Hà Nội:

“Xảy ra chuyện như Vinashin, cuối cùng Thủ tướng đứng ra nhận trách nhiệm. Tôi nhận trách nhiệm chính trị với tư cách người đứng đầu Chính phủ, chứ tôi cũng không ra quyết định nào sai”!

Còn đây là ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng:

“Hôm nay thấy sai một chút chỗ này xử lý, “cách chức đi, kỷ luật đi”, ngày mai thấy sai chỗ kia, “cách chức đi, kỷ luật đi”, lấy ai mà làm việc các đồng chí ?” (Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12.06.2010)

“Thử hỏi trong số chúng ta ngồi đây, bản thân tôi nhiều khi cũng tự hỏi mình làm trăm việc, làm mười việc thế nào cũng sai một hai việc cũng nên, có khi sai lớn, có khi sai nhỏ, nhưng mà các đồng chí cứ dẹp đi thì bầu không kịp.” (Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12.06.2010)

Rất lạc quan:

“Hiện GDP của Việt Nam là 106 tỉ USD, năm 2020 sẽ gần 300 tỉ, năm 2030 sẽ là 700 tỉ và năm 2040 sẽ là 1.000 tỉ. Thu nhập bình quân đầu người hiện nay 1.200, đến năm 2040 sẽ đạt 20.000 USD”. (Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12.06.2010)

Lạc quan ngay cả khi vụ phá sản Vinashin đã là hiện thực:

“Tôi thì vẫn chưa lo”. Ngày 8.6.2010, Ông nói câu này khi được các phóng viên hỏi về những lo ngại về hiệu quả kinh doanh tại Vinashin trong kỳ họp Quốc hội.

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Các ông trong “tứ trụ triều đình” đã thế, những nhân vật khác cũng không hề kém cạnh trong việc “hồn nhiên vô tư” khoe cái dốt, sự ấu trĩ của họ.

Bà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan rất tự tin khi đã là năm 2011 mà bà còn dám phát biểu:

“Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, … khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản”.

Cũng một kiểu tự tin trên đời không biết có ai đó là ông Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Thứ trưởng Bộ Công An:

“…hãy nhìn ra nước ngoài để thấy rõ hơn những thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong lĩnh vực Nhân quyền.”

Còn đây là các vị Thứ trưởng, Bộ trưởng với những phát biểu cực kỳ vô cảm, vô trách nhiệm kiểu như ông Bộ trưởng Giáo dục & đào tạo Phạm Vũ Luận khi thản nhiên trả lời báo chí về việc hàng ngàn thí sinh bị điểm 0 trong kỳ thi tuyển sinh đại học năm 2011:

“Điểm lịch sử thấp là vấn đề của thời đại… Việc có hàng ngàn điểm 0 trong kỳ thi tuyển sinh đại học- cao đẳng vừa qua là vấn đề bình thường”

Bà Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, khi dịch tay chân miệng đã bùng phát ở hàng chục tỉnh thành, VN đã ghi nhận được “78.000 ca bệnh, trong đó 137 trường hợp tử vong.” Bà Bộ trưởng vẫn bình tĩnh cho rằng:

“Tỷ lệ tử vong ở Việt Nam khá thấp, khoảng 3%, trong khi các nước xung quanh 10-30%”, và: “Một số nước trong khu vực số ca mắc tay chân miệng, số tử vong cũng tăng vọt nhưng đã có nước nào công bố dịch đâu mà chúng ta công bố”(VNExpress ngày 26.10.2011)

Các đại biểu quốc hội VN do có truyền hình trực tiếp các buổi hội thảo, tranh luận của Quốc hội nên người dân càng có dịp được nghe những câu phát ngôn để đời của họ.

Quốc Hội khóa XII, có ông Nghị Trần Tiến Cảnh, đại biểu tỉnh Hà Nam, rất hùng hồn khi bênh vực dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam:

“Các nước có chỉ số IQ cao đều xây đường sắt cao tốc. Ra nước ngoài tôi đi thử rồi. Tốc độ nhanh, an toàn, trẻ em đi học, bà mẹ đi làm… Việt Nam không phải nước nghèo, với quyết tâm chính trị, tôi đề nghị phải xây.”

Ðại biểu tỉnh Ðắk Nông Lương Phan Cừ thì ví von:

“Miền Trung có những bãi biển xinh đẹp, như những nàng tiên đang ngủ. Có đường sắt cao tốc, giao thông thuận tiện, các nàng tiên sẽ được đánh thức.”

Quốc hội khóa XIII cũng đã kịp có một số đại biểu có những phát ngôn “nổi tiếng” không kém gì khóa trước.

Ðại biểu Nguyễn Bá Thuyền, viện trưởng VKSND tỉnh Lâm Ðồng khiến cả nước giật mình trong bài phát biểu tại phiên thảo luận ngày 5 tháng 8, 201:

“Làm sao để nhiệm kỳ này cố gắng lấy lại quần đảo Hoàng Sa…” Hoặc “quần đảo Trường Sa bây giờ do Trung Quốc chiếm cho nên chúng ta cũng phải kiên quyết chỗ này…”

Ðại biểu Ðỗ Văn Ðương (TP.HCM) bàn về… lạm phát:

“Tôi đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn, nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục. Trong nước tôi đi chợ rau muống ở đô thị có thể 5000 đồng/mớ, đi xuống vùng nông thôn chỉ 2000, xuống nữa có khi rẻ hơn… Rất nhiều hàng hóa của mình được giảm giá, đồng tiền của mình về Việt Nam được tự do, có giá trị. Cần xem lại đánh giá chỉ tiêu lạm phát này xem có đúng không, theo tôi không phải là cao nhất.”

Ông Nghị Nguyễn Minh Hồng, bác sĩ kiêm nhà văn, đại biểu tỉnh Nghệ An đề xuất phải có Luật Nhà Văn. Hùng hồn đến mức:

“Nếu phải lựa chọn giữa Luật Biểu Tình và Luật Nhà Văn, tôi vẫn chọn Luật Nhà Văn.”

Ðến khi bị báo chí chất vấn, dư luận phản bác, thì ông Hồng lại phát biểu: “Luật Nhà Văn không phải là sáng kiến của tôi” (mà của các nhà văn trong hội nghị toàn quốc của Hội Nhà Văn, theo lời ông). “Vì thế, tôi cũng không biết vì sao cần có Luật Nhà Văn. Tôi chỉ thực hiện lời hứa, còn cụ thể vì sao cần có luật này thì tôi chưa nghĩ ra.”

Đình đám hơn cả, là ông Nghị Hoàng Hữu Phước (TP.HCM) với bài phát biểu về Luật Biểu Tình.

Ông Phước lập luận:

“Biểu tình là để chống lại chính phủ….Biểu tình gây ra nạn tắc đường “xâm hại quyền tự do đi lại của người dân…”, “Biểu tình là ô danh… Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể chi tiền đài thọ cho một sự ô danh”.

Và ông Phước thẳng thừng đòi bỏ hai luật này ra khỏi chương trình nghị sự suốt nhiệm kỳ Quốc Hội khóa XIII. May mà ông Phước chỉ mới là… ông nghị, nếu quyền to hơn nữa, cỡ thủ tướng, thì nhân dân còn khốn khổ khốn nạn đến chừng nào!

Trên trang blog cá nhân, ông nghị này tự xưng là Lăng Tần Hoàng Hữu Phước.Với các bài viết nói về mình khi tự ứng cử, về Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Ðịnh, “Tôi và Tổng Thống Sadam Hussein,” hay luận bàn về thế giới thời kỳ hậu Gaddafi “Hoàng Hữu Phước luận về The Post-Gaddafi Era.”…Càng đọc càng thấy nhân vật này vừa cực kỳ phản động, vừa mắc chứng hoang tưởng, đầu óc không bình thường!

Trong bối cảnh chung về quan trí VN như vậy thì việc các quan chức thành phố Hải Phòng hay huyện Tiên Lãng có những phát ngôn trịch thượng, ngồi xổm lên luật pháp, coi nhân dân như trẻ nít, nói lấy được, cãi chầy cãi cối…chả có gì ngạc nhiên. Hàng loạt chân dung những nhân vật bất tài, nói theo ông Chủ tịch Trương Tấn Sang là “cả một bầy sâu” lộ ra qua vụ Tiên Lãng. Từ ông Lê Văn Hiền- Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng, Lê Thanh Liêm – Chủ tịch UBND xã Vinh Quang, Ngô Ngọc Khánh, Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng, Đỗ Trung Thoại-Phó Chủ tịch UBND TP Hải Phòng, Đại tá Đỗ Hữu Ca-Giám đốc Công an TP Hải Phòng, Nguyễn Văn Thành, Bí thư thành ủy Hải Phòng…

Trong đó giải nhất về tội đổ thừa cho nhân dân sẽ được trao cho ông Đỗ Trung Thoại, Phó Chủ tịch UBND TP Hải Phòng với câu: “Các đồng chí ở huyện báo cáo do người dân bất bình nên vào phá ngôi nhà này chứ không phải chính quyền” . Đồng giải nhất cãi chày cãi cối, nhằm chạy tội cho hành động cưỡng chế trái pháp luật trái đạo lý của chính quyền huyện Tiên Lãng sẽ được trao cho hai ông Ngô Ngọc Khánh, CVP UBND huyện Tiên Lãng và ông đại tá Đỗ Hữu Ca, Giám đốc CA TP. Hải Phòng. Ông Ngô Ngọc Khánh với câu nói phủi tay “hoa lợi trong đầm không có cái gì”, “trước khi thu hồi có thông báo cho chủ đầm thu hoạch hoa lợi”.

Tuy nhiên, theo chị Phạm Thị Hiền (vợ ông Đoàn Văn Quý), toàn bộ 5.000 con cá vược loại 1-1,5 kg/con, 7.000 con cá trắm, trọng lượng 2-3 kg/con, 3.000 con cua giống trong đầm đã bị đánh bắt hết. Tính tổng trị giá cá nuôi đã lên tới hơn 1,5 tỉ đồng, chưa kể cua, tôm tự nhiên và hàng ngàn buồng chuối.( Vietnamnet ngày 3.2.2012).

Ông Đỗ Hữu Ca thì cố tình hạ thấp hậu quả việc lực lượng cưỡng chế đánh sập căn nhà xây 2 tầng của gia đình ông Vươn khi cho rằng:  

“Ngôi nhà của ông Vươn chỉ là cái chòi trông cá, lại nằm trong khu vực bị cưỡng chế, nên việc phá hay không phá không thành vấn đề.” ( Vietnamnet ngày 3.2.2012).

Còn giải nhất về sự dốt nát không thể tin nổi sẽ thuộc về ông Nguyễn Văn Thành, Bí thư thành ủy Hải Phòng khi phát biểu trước 500 cán bộ hưu trí trung, cao cấp tại Câu lạc bộ Bạch Đằng, Hải Phòng ngày 17.2:

“…lập tức các bài báo liên tục xuất hiện, phải thế nọ phải thế kia, phải phải liên tục, phải cho đến ngày hôm qua là 1300, 1400 bài báo và hơn 5 triệu lượt người vào mạng Gugồ chấm Tiên Lãng“!

Và còn nhiều, rất nhiều nữa…kể ra không xiết.

Người dân chỉ cỏn biết ngửa mặt lên trời than: sao họ dốt nát đến thế. Dốt nát một cách hết sức tự tin. Bởi vì nghĩ rằng nhân dân còn dốt hơn, nhân dân chả là cái đinh gì nên mới dám tự tin khoe dốt đến vậy. Mà họ đều là những người có bằng cấp đầy mình hết cả. Ngay ông Nguyễn Văn Thành nói trên là tiến sĩ kinh tế, cử nhân luật, cử nhân Anh. Hay bà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cũng là Giáo sư, Tiến sĩ. Ở VN muốn làm quan tệ nhất cũng phải có một hai cái bằng vắt vai, phổ biến là Cử nhân luật, Cử nhân chính trị, bằng B Anh văn…Nhìn vào lý lịch các quan chức VN thì người nào cũng bằng cấp kêu xủng xoẻng như chuông. Tiến sĩ, Giáo sư cả rổ. Nếu so sánh với nhiều nước khác có lẽ các quan VN có bằng cấp cao hơn nhiều. Nhưng vẫn dốt!

Không chỉ dốt, phần lớn quan chức VN còn tham lam, vô cảm, vô trách nhiệm, coi khinh luật pháp, coi khinh nhân dân như rác.

Đã giành độc quyền lãnh đạo đất nước này từ 37 năm nay mà họ vẫn không thể xây dựng được đội ngũ quan chức cán bộ của mình từ trên xuống dưới cho tử tế, lựa những con người có học có tài thật sự là bởi cái cơ chế độc tài, không có sự bầu chọn công khai minh bạch, toàn chạy chọt dàn xếp chia ghế với nhau mà ra, quan chức thì không chịu học hành cho đàng hoàng, cứ bỏ tiền ra mua bằng cho khỏe, thời buổi bây giờ có tiền mua gì mà chả được. Hậu quả là cứ mỗi khi họ mở miệng thì người dân chỉ có phát khóc, còn những gì họ làm thì chỉ toàn phá hoại! Không có gì lạ khi đất nước này ngày càng lùi nhanh lùi mạnh về mọi mặt so với các nước láng giềng trong khu vực chứ chưa nói gì đến thế giới!

http://rfavietnam.wordpress.com/2012/02/27/l%E1%BA%A1i-ph%E1%BA%A3i-noi-v%E1%BB%81-quan-tri-vi%E1%BB%87t-nam/

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Việt Nam – một nền kinh tế đảng trị

Huỳnh Việt Lang

Hiện nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam đang đơn độc tác chiến trên thương trường, họ không hề nhận được sự bảo trợ nào từ phía Nhà nước. Trước cơn bão khủng hoảng kinh tế, nhiều người trong số họ đã gục ngã. Trong năm 2012 này, con số doanh nghiệp bị phá sản sẽ không dừng lại ở mức hơn 26.000 (1). Trước tình trạng nền kinh tế đang điêu đứng như vậy, đảng Cộng sản đã đóng vai trò gì trở thành một câu hỏi khá bức thiết.

Phương án cứu nền kinh tế bắt đầu từ cứu các doanh nghiệp xem ra chỉ là một bước đi nửa vời. Xử lý nợ xấu cho toàn bộ hệ thống doanh nghiệp là vượt tầm cả hệ thống ngân hàng. Ngoài mệnh lệnh hành chính, liệu Chính phủ có thể làm được gì với công cụ lãi suất, kể cả việc đưa ra một cơ chế chính sách gián tiếp để hỗ trợ.

Một nền kinh tế thành công gắn liền với một Chính phủ làm việc hiệu quả. Chính phương cách điều hành cù lần, hỗn độn của Chính phủ đã làm nền kinh tế vốn nhiều khiếm khuyết thêm què quặt. Trong nền kinh tế thị trường, chính quyền không thể thọc tay sâu vào các hoạt động của doanh nghiệp. Kể cả với các công ty nhà nước vì các doanh nghiệp này không hề là tài sản cá nhân của các quan chức. Một chế độ đi giật lùi thì niềm tin vào sự tăng trưởng của nền kinh tế chỉ là ảo tưởng. Vết nứt nằm ngay trong lòng xã hội. Nhiều bộ phận cư dân không thể tham gia vào các hoạt động kinh tế hiện đại, họ hầu như bị đẩy qua bên lề xã hội. Trong khi đó, những người có khả năng tiếp cận với đặc quyền của chế độ lại có cơ hội gia tăng tích luỹ của cải mà không phải đóng góp cho ngân sách.

Mô hình kinh tế đảng trị


Đảng quản lý và điều hành kinh tế quốc gia
Nguồn ảnh: http://knowledge.ckgsb.edu.cn

Với vai trò lãnh đạo độc tôn của đảng Cộng sản, thể chế kinh tế tại Việt Nam là một mô hình đặc thù. Thông qua Chính phủ, đảng Cộng sản quản lý và điều hành nền kinh tế quốc gia. Thay vì đưa ra những chính sách vì lợi ích chung cho toàn bộ nền kinh tế, Chính phủ lại hành xử theo lợi ích của một nhóm doanh nghiệp thuộc độc quyền nhà nước. Trong thể chế kinh tế đảng trị, đa phần các trục trặc trong hệ thống điều hành có vẻ được duy trì có chủ ý. Trong mô hình kinh tế này, nhà nước đang áp đặt lên nền kinh tế nhiều hàng hóa và dịch vụ có tính độc quyền. Các lợi ích độc quyền được bảo vệ bất chấp cái giá toàn xã hội phải gánh chịu. Sách lược tái cấu trúc nền kinh tế khó mà thành công một khi chưa giải quyết được vấn đề cơ bản là loại trừ các độc quyền theo hướng có lợi cho đảng Cộng sản.

Trước tình trạng nền kinh tế suy thoái ngày một trầm trọng, có một nhầm lẫn tai hại khi mặc định các tuyên bố của các quan chức là hành động thực tiễn. Chẳng hạn, ai cũng thừa nhận có bộ phận không nhỏ tham nhũng, suy thoái nhưng lại không ai thừa nhận mình đứng trong số này (2). Thái độ vô cảm trước hiện tình đất nước của giới điều hành chính sách có thể lý giải với nguyên nhân: lợi ích đa số trong họ không bị đe dọa trực tiếp từ đà suy thoái kinh tế quốc gia. Đồng thời, cái giá phải trả cho một cuộc cải cách toàn diện là quá lớn.

Sự tương quan lực lượng giữa nền kinh tế quốc gia và nhà nước bị phá vỡ bất chấp cách quy luật kinh tế khách quan. Chính phủ đang điều hành nền kinh tế quốc gia theo hướng cụ thể hóa các chủ trương của đảng Cộng sản hơn là vì chính các lợi ích nội tại của nền kinh tế này. Đây chính một điểm đặc thù quan trọng để xác định mối tương quan giữa Chính phủ và nền kinh tế Việt Nam: cách hành xử của một Chính phủ đảng cử sẽ khác với một Chính phủ dân bầu.

Diễn tiến mới nhất

Các tính toán kinh tế cấp vĩ mô tại Việt Nam được hình thành trên lợi ích chính trị cục bộ. Nếu thiếu một tái định nghĩa thiết thực về vai trò của Chính phủ, chương trình tái cơ cấu kinh tế chắc chắn là vô nghĩa. Nền tảng thúc đẩy các chuyển biến về kinh tế Việt Nam, hiện nay, cần xuất phát từ các thay đổi chính trị. Theo các diễn biến mới nhất, trong nước đang rộ lên ý kiến chia lại quyền hạn giữa Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ. Phương án này bắt nguồn từ một cuộc hội thảo do Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức ngày 2/7.

Giả sử, cải cách chính trị này có được thực hiện cũng không dẫn đến những thay đổi tích cực vì hai người giữ vị trí này đều là thành viên thuộc Bộ Chính trị đảng Cộng sản – cơ quan lãnh đạo cao nhất/siêu Chính phủ trong chế độ hiện hành. Ngoài việc phản ánh một phần cuộc đấu tranh nội bộ trong ban lãnh đạo đảng Cộng sản, thực chất phương án này mang dáng dấp một ý tưởng cải cách đổi vai mơ hồ. Đã có nhiều phàn nàn gởi giới điều hành chính sách Việt Nam, ngoài việc sử dụng cái đầu còn phải có cái tâm, biết nghĩ nhiều hơn đến số phận của đại bộ phận doanh nghiệp trong nước. Những lời kêu gọi này có lẽ thiếu thực tế, khi các phân tích chưa nêu bật lên cái dã tâm kiên trì củng cố lợi ích cục bộ, luôn nằm trong cách nghĩ của các thành viên đảng Cộng sản. Thực tế này cũng lý giải cho hiện tượng, các tuyên bố của người đứng đầu Nhà nước thường là những thông điệp của một đảng chính trị.

Kết luận

Chính phủ mang dáng dấp như một con rối đa năng, thủ một lúc nhiều vai trên sân khấu chế độ. Song ai là người điều khiển con rối này? Chính là đảng Cộng sản. Chẳng cần lấp ló sau hậu trường, đảng ngang nhiên thủ vai tổng đại diễn và sẵn sàng kiêm nhiệm các vai đào kép chính khi tuồng hát lên cao trào.

Sinh mệnh của đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với chế độ, Chính phủ và Nhà nước xã hội chủ nghĩa là những sản phẩm được tạo ra từ đảng chính trị này. Trong bối cảnh như vậy, nền kinh tế của Việt Nam khó là một thực thể phát triển khách quan. Sự bất bình đẳng trong việc tái phân phối lợi ích từ tài sản thuộc sở hữu toàn dân là nguyên nhân gây nên tình trạng thường xuyên bất ổn trong xã hội.

Ngày 5/7/2012

© DCVOnline


(1) http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/vef/78497/hon-26-000-dn-giai-the–pha-san-ngung-hoat-dong.html(2) Việc này liên quan đến câu chuyện truyền kỳ sau:

Tại một chi bộ kia, chỉ có 3 đảng viên. Vào cuộc họp ông bí thư đứng lên đọc diễn văn, trong đó cũng có đoạn: “một bộ phận không nhỏ đảng viên tha hoá, biến chất” khi đánh giá chi bộ của mình.

Ngay lập tức, hai đảng viên dự họp bật dậy phản đối: Chi bộ đảng ta có 3 người. “một bộ phận” có thể là 1 người, “một bộ phận không nhỏ” tức chí ít phải là 2 người. Trừ ông bí thư chi bộ đang đọc diễn văn ra, ý của ông là phê bình hai chúng tôi à?

Tham khảo: Jonathan Pincus, Hard grind for Vietnam
http://blogs.ft.com/beyond-brics/2012/07/03/guest-post-hard-grind-for-vietnam/#axzz1za4ZYHcD

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Đào sâu chôn chặt 3 khái niệm: Thu hồi, đền bù, cưỡng chế

… Chuyện gì vậy. Chuyện quan hệ giữa chế độ chính trị của đảng cộng sản Việt Nam với nông dân. Xưa kia, đảng CS luôn tuyên bố nông dân là bạn đồng minh tin cậy của công nhân mà họ đại diện, luôn đề cao liên minh công–nông, coi đó là nền tảng của chế độ. Họ ca ngợi hết lời nông dân là giai cấp đóng góp nhiều công của nhất trong chiến tranh, hy sinh người và của nhất cho cách mạng.

Vậy mà đảng CS đã đối xử với nông dân ra sao? Đòn đầu tiên nặng nề đảng CS giáng lên đầu nông dân là trong cải cách ruộng đất. Nhân danh đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản của học thuyết Mác-Lenin, hơn 27.000 “địa chủ ác bá” bị bắn chết và chôn sống bởi các tòa án nhân dân do đảng CS dựng lên, hầu hết là trung nông yêu nước có hiểu biết và khả năng kinh doanh nông nghiệp, đẩy hàng triệu nông dân “liên quan”, bà con, họ hàng, con cháu số nạn nhân trên đây vào thảm cảnh tuyệt vọng. Đây là tội ác thực sự kinh khủng của đảng CS đối với nông dân, khi cúi đầu vâng lời đảng CS Trung Quốc của Mao, qua đoàn cố vấn “thổ cải” – thổ địa cải cách (cải cách ruộng đất), mà một số bà con nông dân ta hồi ấy đã gọi là đoàn cố vấn thổ tả.

Đòn đảng CS giáng vào nông dân tiếp theo là khi khởi đầu cái gọi là cách mạng xã hội chủ nghĩa, họ đề xướng và ghi vào hiến pháp, “đất đai, ruộng đồng, rừng và sông hồ đều thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý”. Đây có thể nói là bản án tử hình của đảng CS đối với nông dân. Từ đây nông dân ta trắng tay.

Với cái gọi là “sở hữu toàn dân” được ghi vào các Hiến pháp 1959, 1980 và 1992, người nông dân vốn là chủ sở hữu ruộng đồng của mình do bao thế hệ cha ông giao lại, bỗng trắng tay, chỉ là người được tạm xử dụng ruộng đồng của “toàn dân”, do nhà nước của đảng CS nắm giữ.

Đây là điều phi lý gốc, phi pháp gốc, phi nhân gốc của cái gọi là ‘cách mạng xã hội chủ nghĩa’.

Vì toàn dân là những ai? Xưa nay khái niệm này không có trong các văn kiện luật quốc gia cũng như luật quốc tế.

Vì “toàn dân” là một khái niệm chung chung, mơ hồ, không tên họ riêng, không tuổi, không hình ảnh, không căn cước, không có địa chỉ, chỗ ở, không có chữ ký, không có điểm chỉ, không có tiếng nói. chữ viết. Toàn dân nghĩa là không là ai cả, chính quyền CS đứng ra tự vỗ ngực thay mặt cho toàn dân. Sự thâm độc gốc gác là ở đó, nhà nước CS tha hồ lộng hành trên ruộng đồng khắp nơi như của riêng của mình. Họ muốn thu hồi ở đâu lúc nào cũng được.

Em Đỗ Thúy Hằng sinh viên khoa Luật ở trong nước khi mới 19 tuổi đã viết bài tố cáo cuộc ăn cướp khổng lồ phi pháp này của đảng, để cho đảng CS không hề đổ một giọt mố hôi nào bỗng nhiên có quyền sở hữu trên toàn bộ ruộng đồng của đất nước. Như trò ảo thuật.

Do nhận vơ như thế nên họ bịa ra những việc làm phi pháp khác, đó là những quyết định “thu hồỉ”, rồi “đền bù”, rồi “cưỡng chể”, 3 danh từ đã gây nên cơ man nào là bất công, oan ức, uất hận, đau khổ, nghèo đói của nông dân nước ta, kêu trời không thấu.

Sau vụ Tiên Lãng, mấy ngày nay là vụ Văn Giang – Hưng Yên, một kiểu chiến tranh một bên với nông dân. Họ huy động hàng mấy nghìn công an vũ trang, công an cơ động, dân quân, cảnh sát nổi, cảnh sát chìm, bộ đội biên phòng, bộ đội tỉnh, bộ đội huyện, súng đạn lớn nhỏ đầy người, lựu đạn nổ, lựu đạn cay, dàn hàng ngang tiến lên như giữa trận chiến, tiếng nổ vang trời, một bên là nông dân tay không, bà già, con cháu kêu khóc, bị bắt, bị đánh, bị trói, bị giải như tội phạm về trại giam.

Thời phong kiến, thời thực dân, trong chiến tranh cũng không hề có cảnh thê thảm, bất công, oan ức vang trời dậy đất ở nông thôn đến như thế. Tuy các văn kiện đều nói là “chính quyền, các nhà kinh doanh và nhân dân tại chỗ bàn bạc thỏa thuận với nhau”, nhưng ở đây thực tế là đảng, chính quyền các cấp từ xã, huyện đến trung ương đã đứng hẳn về phía công ty Việt Hồng và tập đoàn tỷ phú Savilis của Anh quốc nhằm cướp đoạt thêm 72 héc-ta ruộng đất của 160 hộ nông dân, sau khi đã cướp xong 500 héc –ta của 5.000 hộ, để xây dựng khu nhà – vườn ECOPARK để kiếm lời riêng.

Đây là một tội ác tày trời của một chính quyền đã không còn chút chất nhân dân nào, của một đảng “hèn với giặc, ác với dân”, của một bộ chính trị thời suy thoái tận cùng của đảng CS, đã dùng một bộ phận của bộ máy chiến tranh chống ngoại xâm để tuyên chiến với nông dân nước mình.

Quá đủ rồi. Nông dân cả nước ta, nông dân từ vùng sông Hồng qua miền Trung đến vùng sông Cửu Long hãy cùng nhau đứng dậy, hòa bình không bạo động một cách quyết liệt, quật khởi, sát cánh cùng các luật sư và luật gia trọng công bằng và pháp lý, cùng tuổi trẻ mọi miền từ nông thôn đến thành thị, đấu tranh đòi hủy bỏ khái niệm “sở hữu toàn dân”, khái niệm “đền bù” và khái niệm “cưỡng chế”, 3 khái niệm chưa từng có trong lịch sử nông thôn nước ta, cũng hoàn toàn xa lạ kỳ quặc với thế giới văn minh. Hãy đào sâu chôn chặt 3 khái niệm phi lý, độc ác ấy.

Cả nước đang đòi Bộ chính trị đảng CS phải gấp rút đưa ra ngay tại khóa họp Quốc hội sắp tới việc thảo luận bộ Luật Đất Đai mới như đã hẹn 2 năm nay, cùng với Luật Báo chí mới.

Qua đó khôi phục đầy đủ quyền sở hữu đất đai của nông dân, xoá bỏ, đào sâu chôn chặt vĩnh viễn 3 các khái niệm tội ác nhằm trấn lột cuộc sống của nông dân.

Các nhà làm luật, các nhà chính trị, các đại biểu quốc hội, các nhà báo nước ta hãy nhìn xem và suy nghĩ, ở Thái Lan, ở Miến Điện, ở Philippines, ở Malaixìa và Indônesia gần ta, làm gì có chuyện thu hồi ruộng đất, chuyện đền bù, chuyện cưỡng chế quái gở như ở nước ta.

Trong thế giới văn minh làm sao có thể có tên kẻ cắp móc túi người ta rồi lớn tiếng rằng hãy trả lại cho tôi, đây là của cải của tôi, theo kiểu vừa ăn cướp vừa la làng.

Đã đến lúc đảng phải sòng phẳng hoàn trả lại cho nông dân quyền tư hữu ruộng đất vốn có từ ngàn xưa. Không thể loanh quanh, trốn tránh, sửa chữa, bổ sung Luật đất đai phi lý, sai lầm, vô đạo.

Hãy nghe tiếng nói của giáo sư Võ Tòng Xuân, chuyên gia hàng đầu ở vùng đồng bằng Nam Bộ, tiếng nói của giáo sư Đặng Hùng Võ nguyên thứ trưởng Tài nguyên – Môi trường, tiếng nói của tiến sỹ Đặng Kim Sơn viện trưởng viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, tiếng nói của nhà văn Nguyễn Quang Thiều gắn bó với nông thôn, tiếng nói của nhà văn nữ Võ Thị Hảo thương cảm bà con nông dân ta, của đa số các luật gia…đều công khai, rõ ràng, cấp bách đòi phải trả lại ruộng đất cho nông dân, người chủ sở hữu chân chính của đồng ruộng. Cả bộ chính trị hãy lắng nghe bà cụ Lê Hiền Đức đang về huyện Văn Giang để quan sát và bênh vực bà con nông dân ta, cụ đã phải cải trang để lọt được vào thôn xã bị bao vây và cưỡng chế. Cụ là Bao Công của thời đại mới, là lương tâm của xã hội.

Chìa khóa của phát triển nông thôn, của thúc đẩy nông nghiệp, của cấp cứu nông dân – 70 % số dân nước ta – là ở chỗ trả lại sòng phẳng quyền sở hữu cho nông dân.

Nông dân Đak No – Đak Nông, nông dân Tiên Lãng – Thái Bình, Văn Giang – Hưng Yên đang gào thét đòi công lý và ruộng đất. Nông dân cả nước đang đòi lại cuộc sống bình thường trên ruộng đồng vốn là sở hữu thiêng liêng của mình, do ông cha mình khai thác, được công nhận từ thời phong kiến và thực dân.

Đảng CS phải chấm dứt ngay việc đàn áp nông dân ở Đak No – Đak Nông, Tiên Lãng – Thái Bình, Văn Giang – Hưng Yên và mọi nơi khác. Phải chấm dứt ngay cuộc chiến tranh 1 phía với nông dân, giai cấp bị tổn thất mạng sống và của cải lớn nhất trong chiến tranh. Phải chấm dứt ngay cuộc tước đoạt tài sản rộng lớn nhất, phi pháp nhất, kéo dài nhất trên đất nước ta.

Đã đến lúc phải giải quyết tận gốc một vấn nạn quốc gia liên quan đến vận mệnh của toàn dân tộc, đến số phận và tương lai của Nông thôn, Nông nghiệp và Nông dân cả nước ta.

                                                                                                             Bùi Tín

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Trại Trồng Người “Hồng Hơn Chuyên”

Người xưa có nói: “gieo nhân nào gặt quả nấy” nhằm trao truyền kinh nghiệm sống cho đời sau, chỉ ra nguyên nhân, hậu quả và tác động, chuyển động của sự vật để khẳng định rằng kết quả, hệ quả của ngày hôm nay là do việc làm, hành động của ngày hôm qua, không có việc chi là không có nguyên nhân của nó. Từ đó, giúp cho chúng ta nghiệm ra rằng tất cả hậu quả tồi tệ, hiện hữu trên quê hương thân yêu ngày hôm nay cũng không là ngoại lệ, nó đã “bị” kẻ lạ gieo trồng trong nhiều chục năm về trước với các ý tưởng: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”; “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người mới xã hội chủ nghĩa”; trong chuổi ý tưởng đó còn có “hồng hơn chuyên”…

Có thể nói ý tưởng độc quyền trồng người hay sản xuất con người mới của ai đó khởi xướng đến ngày hôm nay đã đủ độ chín, đã được thu hoạch nhiều đợt và được đưa vào sử dụng từ lâu nhưng thành quả gặt hái từ các sản phẩm con người, không khỏi khiến cho cho nhân loại chau mày, lắc đầu ngao ngán lẫn kinh sợ. Vậy, con người mới như thế nào khiến cho nhân loại phải thất vọng về nó? Con người mới này như thế nào, chắc không cần phải diễn giải ra ở đây, vì không hiếm người trong chúng ta đã từng ít nhất một lần trong đời đối mặt với nó, biết phẩm chất của nó ra sao – con người mới xã hội chủ nghĩa?

Ở đây, chúng ta sẽ không bàn đến cách gieo trồng hay phương pháp sản xuất con người mới mà chỉ bàn đến cách lựa chọn hạt giống của chủ nhân gây giống trồng người. Như chúng ta thấy, chủ trang trại nuôi trồng này rất lạ, lạ ở chỗ không ưu tiên cho hạt giống tốt, có tài năng trí tuệ với chuyên môn cao hay tiêu chuẩn đạo đức thông thường theo truyền thống, chuẩn mực văn minh nhân loại, ông ta chỉ chọn các hạt giống ngu trung, càng dốt nát lưu manh càng tốt, với quan điểm duy ý chí “hồng hơn chuyên” tức không cần chuyên môn chỉ cần say máu, đỏ máu, ngập mùi tanh của máu là đủ chuẩn.

Chính cách chọn lựa “hồng hơn chuyên” cùng với phương pháp nhồi nhét các bài bản phi dân tộc, phi nhân bản, phi đạo đức, phản tiến hóa với vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc đã sản sinh ra con người mới, đặc biệt “lùn” về văn hóa trí tuệ nhưng hung bạo độc ác, gian manh dối trá cực kỳ cao. Thế cho nên, phương pháp sản xuất, nuôi trồng con người trên nền tảng hồng hơn chuyên đã cho ra những sản phẩm có chất lượng “trời ơi đất hỡi” làm ô nhiểm môi trường trầm trọng dẫn đến ung thư di căn lây lan ra toàn xã hội, xé nát nền tảng đạo đức của con người nhiều ngàn năm gây dựng.

Ngày nay hậu quả hồng hơn chuyên thực hiện trong quá trình nuôi trồng con người cho ra sản phẩm con người mới “lùn” về văn hóa trí tuệ, “cao” về độc ác dối trá nên đất nước Việt Nam hiện tại như một bãi rác “vĩ đại”, vĩ đại hơn cả “bác Hồ” vĩ đại, nó hỗn độn vô tổ chức, vô nguyên tắc nhìn đâu cũng thấy giòi bọ nhung nhúc, đứng đâu cũng bị mùi hôi thối tra tấn và hiện trạng này gần như vô phương tẩy uế, chỉnh sửa. Thiết nghĩ, chỉ còn cách duy nhất là đuổi cổ chủ trang trại thiêu cháy toàn bộ hệ thống tổ chức nuôi trồng hiện hữu, may ra còn kịp cứu vãn tình thế vô cùng nguy ngập bế tắc, để xây lại từ đầu như chuẩn mực chung của loài người văn minh.

Hình ảnh do hậu quả “nhân quả” của thành phẩm con người mới theo tư duy, quy trình nuôi trồng hồng hơn chuyên của chủ trang trại trồng người, là tham nhũng tràn lan, kiêu binh lộng hành, nền tảng kinh tế mong manh dễ vỡ, các cơ cấu hạ tầng căn bản phục vụ dân sinh như giáo dục, y tế, giao thông… đã bị phá sản toàn diện, qua đó nó thể hiện sự kém cõi trong tư duy, hạn chế trong nhận thức, dốt nát trong hành động của con người mới hồng hơn chuyên và tiếp diễn từ thế hệ hồng hơn chuyên này đến thế hệ hồng hơn chuyên khác, năm sau tồi tê hơn năm trước, cứ thế kéo dài ra chừng như không có điểm dừng cho một khởi điểm tốt hơn!

Có thể thấy từ gốc, từ khởi điểm không mấy sáng sủa đó nên trong giáo dục nạn chạy điểm chạy trường, bán đề thi thi hộ, bằng thật học giả, trò hành hung thầy, thầy gạ trò đổi tình lấy điểm, dụ dỗ cưỡng hiếp tràn lan trong môi trường giáo dục, không còn là chuyện cá biệt…; trong y tế y đức là cái gì đó lạ lẫm rất quý hiếm, với lời tâm niệm của người thầy thuốc, lương y như từ mẫu đã lạc hậu, đã biến thành lương y như đồ tể từ lâu, bệnh nhân muốn được phục vụ chữa trị tốt phải có phong bì lót tay và chuyện nhiều bệnh nhân nằm chung giường, nằm dưới đất, tràn ra cả hành lang là chuyện bình thường!… Trong giao thông, bộ phận thực thi luật pháp, nói thẳng ra là công an giao thông, những con người mới hồng hơn chuyên, thản nhiên thu tiền mãi lộ, nhận chung chi xe tải dư trọng, xe khách thừa người, bằng lái xe giả “vô tư” tham gia giao thông là một trong nhiều nguyên nhân gây nạn ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông và trở thành con bệnh bất trị…

Nói đúng hơn, trước vấn nạn của ngành, các ông bà bộ trưởng của các bộ giáo dục, y tế, giao thông có vẻ hơi “bị” quan tâm… nên phải đăng đàn lên gân hò hét, đề ra giải pháp phòng chống tiêu cực này nọ, giải quyết nạn quá tải của bệnh viện, vấn nạn ùn tắc, tai nạn giao thông gây chết người hơn cả thời chiến tranh khốc liệt nhất, nhưng qua quan sát tất cả mọi hò hét, mọi biện pháp của các ông bà “trưởng” này gặp phải rào cản kiến thức chuyên môn có vấn đề, chính nó chỉ ra sự yếu kém năng lực và trí tuệ dưới tầm của người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp giải quyết sự việc do hậu quả của hạt giống hồng hơn chuyên được gieo trồng từ nhiều chục năm về trước đã cho ra sản phẩm “độc” chỉ Việt Nam mới có.

Tuy thế, nếu đổ tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” lên đầu các ông bà trưởng dưới trướng chủ trang trại sản xuất con người mới là không công bằng, là thiếu khách quan bởi xét cho cùng mọi nguồn gốc phát sinh đều từ trang trại nuôi trồng giống đỏ mà ra, nếu không có chủ trang trại bao che, nuôi dưỡng thì không có con người mới hồng hơn chuyên đưa vào sử dụng vô trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng như hiện nay. Dó đó, muốn truy tìm nguyên nhân hay truy ra thủ phạm chính, thay vì lên án tòng phạm cho thật khách quan, hẳn sẽ thấy thủ phạm chính là chủ trang trại nuôi trồng hồng hơn chuyên chứ không phải là sản phẩm con người mới đã được đưa vào sử dụng gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội.

Lẽ khác, những hư hỏng, biến chất, vô đạo thiếu năng lực của con người mới hồng hơn chuyên gây hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội không chỉ trước mắt hiện tại, tại chỗ mà nó còn tiềm ẩn có nguy cơ khủng khiếp hơn nhiều. Nguy cơ của nó có thể khủng khiếp đến mức đất nước mãi chìm trong triền miên tăm tối, trong lạc hậu đói nghèo, ngay cả nguy cơ làm thân nô lệ ngoại bang nhiều ngàn năm nữa do học tập làm theo chủ trương vô tổ quốc của chủ trang trại trồng người hồng hơn chuyên vốn lưu manh và ngu tối.

Có thể thấy, tất cả hậu quả hiển lộ trên đất nước Việt Nam ngày hôm nay khiến cho những người may mắn không nằm trong quy trình nuôi trồng của trang trại trồng người không khỏi ngán ngẩm, bức xúc, bất bình, căm giận đến tím ruột bầm gan và chuyện gạ đổi tình lấy điểm của thầy giáo với “lương sư hưng quốc!”, chuyện nhiều bệnh nhân nằm chung giường, tràn ra cả hành lang bệnh viện với “lương y như từ mẫu!”, chuyện cảnh sát thu tiền mãi lộ, nhận chung chi bảo kê cho tệ nạn mãi dâm mà “lương tâm không bằng lương tháng!” và chuyện một bộ phận không nhỏ quan chức đảng viên suy thoái đạo đức lối sống, không phải ngủ một đêm sớm mai thức dậy là nó bày ra khắp chốn nhìn đâu cũng thấy kinh sợ cho sản phẩm con người mới hồng hơn chuyên.

Thành thật mà nói, những chuyện vô đạo, bất nhân, ngu tối tàn dân hại nước kinh khiếp như thế hiện ra trước mắt ngày hôm nay không phải là chuyện một ngày một bữa mà nó đã được hình thành qua quá trình dài bởi tiêu chuẩn hồng hơn chuyên trong quy trình nuôi trồng vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc, yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội, yêu cái quỷ quái gì đó!… Cách nuôi trồng này rất gần với công thức dân gian thường nói, thiện chí cộng với ngu dốt thành ra phá hoại, công thức này chính xác với sản phẩm con người mới hồng hơn chuyên của trang trại trồng người, vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc.

Vì thế, sản phẩm con người mới này khi đưa vào sử dụng đã trở thành chuyên viên phá hoại thuộc loại thượng thừa do gian tham cộng ngu dốt, do tàn ác cộng lưu manh, không có kiến thức tối thiểu nên tầm nhìn giới hạn, không nhìn xa trông rộng, dễ bị gian thương, tài phiệt lừa, dụ dỗ với miếng mồi ngon trước mắt cận kề lợi danh, nhục dục thấp hèn và những con người mới này được tuyển chọn từ hạt giống đỏ lưu manh giật dọc, đầu trộm đuôi cướp, không có ý chí thiện căn cưỡng lại cám dỗ cho nên chỉ biết vun vén cho bản thân. Với loại người mới này được nuôi dưỡng bằng tư tưởng: vô gia đình nên sẵn sàng đấu tố mẹ cha, anh em, giòng tộc; vô tôn giáo không biết trên đầu có trời đất thánh thần, không tin có quả báo nên hung dữ độc ác giết người không gớm tay; vô tổ quốc nên sẵn sàng trù dập đồng bào, làm tay sai ngoại bang, thậm chí bán nước vẫn không cảm thấy xấu hổ, có tội với tiền nhân!

Qua quan sát con người mới được sản xuất từ trại trồng người hồng hơn chuyên trong thực tiễn đời sống, có thể kết luận rằng kế hoạch chọn hạt giống “đỏ” hồng hơn chuyên đưa vào quy trình nuôi trồng, sản xuất con người mới đã thất bại, đã trở thành thảm họa cho nhân loại bởi nó sản sinh ra những thằng người có đuôi với đầu tôm đít tép nhưng lại mang chứng bệnh vĩ cuồng, hoang tưởng nhai đi nhai lại những thứ, những tư tưởng đã chết, đã thành phân và loài người tiến bộ đã chôn nó từ lâu, rất lâu rồi. Thế nhưng, thật sự không hiểu nổi các tên chủ trang trại trồng người nghĩ sao mà cứ tiếp tục nuôi trồng, cứ sản xuất con người mới có chất lượng “vô đạo, gian manh, hung tàn, tráo trở” đưa vào sử dụng bất chấp hậu quả, bất chấp khách hàng “vái lạy” tẩy chay, chúng vẫn như kẻ đứt dây thần kinh xấu hổ, cứ huênh hoang tuyên truyền, quảng cáo sai sự thật, trơ trẽn đến độ chính họ cũng biết khách hàng biết những điều họ quảng cáo, hô khẩu hiệu “sản phẩm chất lượng thằng người có đuôi” của họ là gian manh dối trá nhưng họ vẫn cứ nói láo, nói láo… nói láo tuốt tuồn tuột?

© Lê Nguyễn

Nguồn: http://www.vanganhonline.com/2012/05/trai-trong-nguoi-hong-hon-chuyen.html

Posted in Uncategorized | Leave a comment